한국어 English Tiếng Việt

Cách K-Beauty Thay Đổi Chiến Lược D2C Trong Thị Trường Toàn Cầu

2026-08-12 · * 이광일 기자 hotitems@naver.com * 승인 2026.08.12 12:20 * 댓글 0

Bài viết này là phần tiếp theo trong kế hoạch D2C của ngành mỹ phẩm, hướng tới việc tìm hiểu về cách các công ty mỹ phẩm Hàn Quốc thâm nhập vào thị trường D2C toàn cầu. Ngành mỹ phẩm Hàn Quốc đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc xây dựng hệ thống thanh toán và phân phối doanh thu, không chỉ tập trung vào việc xây dựng website bán hàng hay lựa chọn nhà cung cấp thanh toán.

Khi nói đến D2C toàn cầu, nhiều người nghĩ ngay đến việc xây dựng cửa hàng trực tuyến và vận chuyển hàng hóa ra nước ngoài. Việc tạo trang sản phẩm bằng tiếng Anh hay tiếng Nhật và kết nối với thanh toán quốc tế có thể khiến người ta nghĩ rằng việc bán hàng toàn cầu đã trở nên dễ dàng. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy việc vận hành một hệ thống thương mại điện tử là hoàn toàn khác so với việc giới thiệu sản phẩm ra thế giới và nhận tiền từ người tiêu dùng quốc tế.

Thời kỳ đầu, khi các giải pháp cửa hàng trực tuyến nguồn mở từ nước ngoài được sử dụng tại Hàn Quốc, vấn đề lớn đầu tiên cần giải quyết là hỗ trợ ngôn ngữ Hàn Quốc. Sau khi tạo ra các mô-đun ngôn ngữ và bản địa hóa môi trường đặt hàng, vấn đề tiếp theo thường là thanh toán, mà một trong những phương thức thanh toán phổ biến là PayPal. Sự kết hợp giữa các phương thức thanh toán từ tài khoản PayPal đến thanh toán qua thẻ tín dụng đã mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ không cần xây dựng một mạng lưới tài chính quốc tế để bán hàng cho người tiêu dùng toàn cầu.

Nhưng khi kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán toàn cầu khác, tình hình trở nên phức tạp. Dù là những nhà cung cấp dịch vụ được cung cấp tại Mỹ, châu Âu hay Úc, việc ký hợp đồng với các công ty tại Hàn Quốc vẫn là một vấn đề riêng biệt. Nhiều công ty Nhật Bản có thể tham gia, nhưng công ty Hàn Quốc lại không được hỗ trợ. Để giải quyết những hạn chế này, vào khoảng năm 2018, nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đã phải nộp hồ sơ trực tiếp cho Paymentwall tại Mỹ để sử dụng dịch vụ thanh toán. Mặc dù sau đó văn phòng đại diện tại Hàn Quốc được thành lập và tình hình phục vụ đã cải thiện, nhưng trải nghiệm này vẫn cho thấy rằng việc thanh toán trong thương mại điện tử toàn cầu không chỉ đơn giản là một mô-đun chương trình.

Môi trường thanh toán của người tiêu dùng Hàn Quốc là một trong những môi trường thuận tiện hàng đầu trên thế giới. Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ đã trở nên phổ biến, và các phương thức thanh toán trực tuyến đã được kết nối chặt chẽ với các PG và các dịch vụ thanh toán linh hoạt trong nước. Người tiêu dùng chỉ cần chiếc smartphone là có thể thực hiện hầu hết các hoạt động mua sắm trực tuyến và ngoại tuyến.

Tuy nhiên, sự tiện lợi trong thanh toán nội địa không chuyển thành lợi thế cạnh tranh trong thương mại toàn cầu. Việc người tiêu dùng Hàn Quốc thanh toán thuận tiện trên các trang thương mại điện tử không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Hàn Quốc có thể nhận thanh toán từ người tiêu dùng Nhật Bản, Việt Nam hay Singapore theo các phương thức địa phương.

Chính sách của PayPal tại Hàn Quốc cũng phản ánh sự khác biệt này. PayPal hạn chế thanh toán giữa các tài khoản Hàn Quốc, trong khi đó vẫn cung cấp các dịch vụ thanh toán và nhận tiền trong các giao dịch quốc tế. Dù là một dịch vụ thanh toán toàn cầu, phạm vi sử dụng của nó phụ thuộc vào quốc gia của doanh nghiệp, đối tác giao dịch, và bản chất của giao dịch.

Vì vậy, câu hỏi "tại sao thanh toán toàn cầu có thể thực hiện tại Nhật Bản nhưng bị hạn chế tại Hàn Quốc" không thể chỉ đơn thuần được kết luận rằng cạnh tranh của lĩnh vực tài chính Hàn Quốc thấp. Thay vào đó, chúng ta cần xem xét cách Hàn Quốc, với hệ thống thanh toán hàng đầu thế giới, đang mở rộng khả năng cạnh tranh đó trong việc giao dịch với các quốc gia khác.

Giả sử một công ty mỹ phẩm Hàn Quốc bán một sản phẩm serum trị giá 5 triệu đồng cho người tiêu dùng Nhật Bản, khi một nhà sáng tạo Nhật Bản giới thiệu sản phẩm và người tiêu dùng nhấp vào liên kết. Đây là sự chuyển động của nội dung. Khi người tiêu dùng đặt hàng, sản phẩm sẽ được gửi từ Hàn Quốc sang Nhật Bản. Đây là sự chuyển động của hàng hóa. Nhưng ngay khi người tiêu dùng thanh toán bằng đồng Yên, một con đường ngược lại cũng được thiết lập. Đây là sự chuyển động của tiền.

Người tiêu dùng Nhật Bản mua sản phẩm Hàn Quốc không có lý do gì phải tuân theo thói quen thanh toán của người tiêu dùng Hàn Quốc. Càng cung cấp nhiều phương thức thanh toán như thẻ, ví điện tử, thanh toán tại cửa hàng mà họ quen thuộc, càng giảm đi rào cản trong quá trình mua sắm. Điều này cũng đúng với Trung Quốc và Đông Nam Á, nơi có các hệ sinh thái thanh toán quen thuộc cho người tiêu dùng.

Nguyên lý quan trọng của D2C toàn cầu là, người tiêu dùng nên thanh toán như người bản địa, trong khi doanh nghiệp nhận thanh toán toàn cầu. Chỉ việc có một loại thẻ tín dụng quốc tế chứng tỏ không đủ để hoàn thành thanh toán toàn cầu. Nếu bán hàng cho người tiêu dùng Nhật Bản, thanh toán phải dễ dàng trong điều kiện của người tiêu dùng Nhật Bản. Tương tự, nếu bán cho người tiêu dùng Việt Nam, thì thanh toán cũng nên dễ dàng trong điều kiện tài chính và thanh toán tại Việt Nam.

Sau khi quá trình thanh toán kết thúc, một giai đoạn khó khăn hơn bắt đầu: đó là 'thanh toán'. Doanh thu từ bán hàng của thương hiệu sẽ bao gồm các khoản phí từ các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán. Nếu một nền tảng trung gian giao dịch thì cũng cần tính phí của nền tảng đó, cùng với khoản phí giao hàng, thuế, hoàn trả và chi phí chargeback cũng cần được xem xét.

Thêm vào đó, nếu có một nhà sáng tạo Nhật Bản đóng góp vào việc bán hàng và thỏa thuận chia sẻ một tỷ lệ doanh thu nhất định, thì một giao dịch mới sẽ được tạo ra. Doanh thu người tiêu dùng đã trả cần được phân chia giữa các bên bao gồm thương hiệu, phí nền tảng và tiền dành cho nhà sáng tạo nên dựa trên các yếu tố hợp lý.

Điều này cho thấy rằng cần có sự chuyển động giá trị khác nhau xoay quanh một sản phẩm. Tất cả mọi người đều biết nhưng không ai thực sự hiểu rõ. Trên mạng xã hội, mối quan hệ giữa thương hiệu và nhà sáng tạo được thiết lập và điều này cho phép thương hiệu chỉ định nhà sáng tạo cụ thể cho các quảng cáo và hoạt động. Cửa hàng trực tuyến cũng hoạt động tương tự. Người bán có thể đề xuất tỷ lệ có lợi nhuận chung cho nhà sáng tạo ngoài phí bán hàng.

Chuyển động của nội dung từ thương hiệu tới người tiêu dùng Nhật Bản và chuyển hàng hóa từ Hàn Quốc đến Nhật Bản. Ngược lại, đồng Yên mà người tiêu dùng Nhật Bản trả quay trở lại người bán và phần doanh thu thuộc về nhà sáng tạo được chia hợp lý dựa trên các khoản thời gian và thực hiện giao dịch.

Đầu ra của một sản phẩm nên được đưa đến một cách phù hợp với nhu cầu và trách nhiệm tại các quốc gia khác nhau. Sẽ không cần thiết phải thống nhất thành một phương thức thanh toán toàn cầu mà nên xây dựng một cấu trúc thanh toán mà thị trường có người tiêu dùng quen thuộc với phương thức đó. Ví dụ, nếu một nhãn hàng Hàn Quốc bán hàng cho người tiêu dùng Singapore, thì người tiêu dùng sẽ thanh toán bằng phương thức họ đã quen. Kinh phí từ bán hàng thay vì gửi về Hà Nội nên được xử lý thông qua các dịch vụ hợp pháp và các đối tác tài chính với đầy đủ chứng chỉ.

Nếu nhà sáng tạo địa phương tham gia vào việc tiếp thị và doanh thu, thì cũng cần có cấu trúc phù hợp với các thỏa thuận hợp lý và doanh thu từ việc bán hàng.

Sự cạnh tranh D2C toàn cầu không chỉ ở việc tạo ra một trang thương mại điện tử, mà còn cần nhận diện rõ để đóng dấu vào việc ai đã tạo ra nội dung, hàng hóa đã được đưa đi đâu, ai đã tham gia vào việc bán hàng, và tiền đã đến từ đâu, ai sẽ được nhận tiền và tại sao lại giao dịch.

← Back to list